Chúng con về thăm quê hương của Tổ (1)
Thanh Hóa, Bút Sơn, Hoàng Yến đây rồi!
Mấy trăm năm, bao vật đổi sao đời
Làng Ái lũy ngày xưa năm đâu nhỉ?
Con lặng ngắm dãy núi Trường hùng vĩ
Hai đầu cao, lưng như lũy rộng dài
Phải nơi đây từng in dấu chân Người (2):
Hái quả, bẩy chim, đốn cây, đẳn gỗ.
Con lặng ngắm dòng Mã giang rực rỡ
Qua Hàm rồng uốn khúc chảy cạnh làng.
Phải nơi đây vào những buổi chiều vàng,
Cùng bè bạn Người vui đùa,
tắm giặt?
Con lặng ngắm biển, ruộng, vườn bát ngát,
Gió cát lùa qua mả Tổ Trương Văn.
Phải nơi đây, Người từng đứng băn khoăn,
Khi quyết định theo Nguyễn Hoàng “Nam tiến”?
Con chưa biết: bằng bộ xe? Thuyền biển?
Người đưa dân lập Ái Nghĩa thành làng
Gần Trung du, cạnh Đại Lĩnh, Vu Giang (3)
Tình Chiêm Việt trộn pha màu huyết hệ. (4)
Ổn định canh cư: công lao bao kể
Người không con, đem em cháu nối dòng (5)
Triều đại đổi thay: bình loạn, hưng vong,
Nhưng Trương tộc vẫn vững vàng năm phái.
Thanh, Quảng hôm nay đường xa chẳng ngại (6)
Một Ngày Xe huynh đệ lại gần nhau.
Ta nghèo tiền nhưng tình có nghèo đâu?
Biết cội rễ càng yêu thương tổ quốc
Hãy dặn cháu con: Siêng Làm, Chăm Học.
Lười là nghèo, là đói, dốt triền miên.
Nhớ ơn người xưa “Tất cả gắng lên”,
Mãi xứng đáng là cháu con Trương tộc.
(Nhân
dịp về thăm quê Tổ tháng 8 năm 1998)
(1), (2): Tổ, Người: Chỉ ông
Trương Văn Sáng quê ở làng Ái Lũy, huyện Hoằng Hoá, năm 1558 theo Đoan
quận công Nguyễn Hoàng vào Nam lập nghiệp (Ông Sáng đến lập làng Ái
Nghĩa, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, trước có tên Ái Đái.
(3): Đại Lĩnh: Núi Đại An, Vu
Giang: sông Vu Gia ở huyện Đại Lộc.
(4): Đa số trai tráng di dân
theo Ông Sáng, kết hôn với phụ nữ Việt gốc Chiêm, vì gái Việt chính
thống lúc bấy giờ rất ít.
(5): Ông Sáng không có con nên
về già trở lại Thanh Hóa, đem gia đình hai người em trai vào ở. Hai
ông này sinh ra được năm người con trai, lập thành năm nhánh họ Trương
Ái Nghĩa lưu truyền đến ngày nay.
(6): Thanh, Quảng: Thanh Hoá, Quảng
Mời bạn bấm vào tựa bài ở hai cột bên để đọc nội dung những bài thơ khác.